Tăng gấp đôi mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng
Ngoài ra, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về nội dung và mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung thuộc quy hoạch rừng đặc dụng theo hướng tăng mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên lên 2.500.000 đồng/ha/năm, thay cho mức 1.000.000 đồng/ha/năm ở quy định cũ, nhưng vẫn giữ thời gian 6 năm và hệ số 1,5 lần cho vùng ven biển. Đối với khoanh nuôi có trồng bổ sung, không ấn định mức kinh phí cố định mà áp dụng theo định mức kinh tế – kỹ thuật và dự toán được duyệt. Đồng thời, bỏ chi phí lập hồ sơ lần đầu 50.000 đồng/ha, nhưng vẫn giữ tỷ lệ 7% cho quản lý, kiểm tra, nghiệm thu. Cụ thể:
“2. Nội dung và mức kinh phí:
a) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên: mức kinh phí bình quân 2.500.000 đồng/ha/năm trong thời gian 6 năm. Đối với vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân.
b) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung: theo định mức kinh tế kỹ thuật, thiết kế, dự toán công trình lâm sinh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
c) Chi phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung được xác định bằng dự toán được duyệt; kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bằng 7% tổng kinh phí chi cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung hằng năm.”.
Đáng chú ý, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về đối tượng và mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng theo hướng tăng gấp đôi mức hỗ trợ từ 50.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm lên 100.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (26/01/2026).
